Nghệ nhân ưu tú Lê Thị Bích Thảo - người giữ hồn cho nghệ thuật văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu

Nguồn : Văn Hiến

vanhien.vn - Nghệ nhân Lê Thị Bích Thảo sinh năm 1948 tại Nam Định, trên mảnh đất thiêng có truyền thống thờ Mẫu và là nơi thờ Đức Thánh Trần; Như bà đã từng nói: 'Mọi sự trên đời đều phải tùy duyên', người con gái Nam Định ấy sinh ra vốn đã mang nặng trong mình mối nhân duyên phụng thờ Thánh, thờ Mẫu. Để rồi khi đã quá nửa đời người bà vẫn nhất tâm theo Phật, thật tâm theo Thánh.

Nhân quả và duyên nghiệp làm con nhà Thánh

Cuộc đời ra đồng làm thầy của nghệ nhân ưu tú Lê Thị Bích Thảo là cả một chặng đường đời đầy gian nan và thử thách và cho đến ngày hôm nay bà nghiệm ra rằng đó chính là số mệnh của mình. Chia sẻ về cuộc đời mình cũng là một đôi dòng hoài niệm về những gì bà đã trải qua cũng như sự truân chuyên của hết thảy những thủ đền thủ điện, thanh đồng đạo quan trên con đường tu thờ thánh đạo.

Cô là người con gái sinh ra trong một gia đình thuần nông ở một vùng quê nghèo bữa đói bữa no khó khăn chồng chất khó khăn. Bố mẹ nuôi nấng, dạy dỗ cô đến khi cô trưởng thành trở thành người giáo viên nhân dân năm 1966. Ngay khi ra trường, cô được phân công về giảng dạy ngay trên chính mảnh đất địa linh Mẫu đệ nhất giáng sinh lần thứ nhất xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, Nam Định: chính là Phủ Quảng Cung Linh Từ ngày nay.

Khi ấy, vào mỗi giờ ra chơi cô thường qua lại phủ Mẫu, thấy nhiều người đến đó khóc, cười…điên dại, ốm đau, trói tay vào cột mà ngồi cả ngày, gia đình đến lễ Mẫu lại khóc liền. Cô luôn thắc mắc không hiểu tại sao lại diễn ra những cảnh tượng kì lạ như vậy. Cô vẫn không hề biết mình cũng là người có căn duyên với Mẫu như những người đang ngồi khóc lạy dưới phủ Mẫu kia. Ngày ngày cô say sưa bên lớp lớp học trò thân yêu, dạy thế hệ học sinh K8 (miền Nam) rất vất vả, nhiều em học sinh có hoàn cảnh khó khăn mồ côi cả cha lẫn mẹ. Vào thời kì mà cả nước còn đang khó khăn, chồng đi B, một mình cô vừa giúp đỡ và dạy dỗ các em sống, học tập và làm người. Tình thương dường như đã trở thành sức mạnh to lớn để giúp con người ta mạnh mẽ vượt qua khó khăn, vượt qua mọi chướng ngại vật. Không có gì hơn khi con người ta sống hướng thiện, biết yêu thương. Vất vả, gian nan là thế, nhưng với tình thương và trái tim nhân ái cô đã làm được những điều tưởng chừng là không thể.

Năm 1968, trước cảnh nước nhà loạn lạc, chiến tranh, đền phủ bị phá bỏ, cô xót xa mà ốm nặng, tinh thần đến sức khỏe đều dần dần suy kiệt, những trận ốm liên tiếp, uống thuốc không khỏi. Ba năm sau, cô bị một trận ốm “thập tử nhất sinh”, người thân, gia đình túc trực tưởng chừng khó lòng qua khỏi. Hai mươi mốt ngày không ăn không uống, vào một đêm mà mọi người nghĩ rằng cô chắc không thể sống tiếp, mẹ của cô đã đi bộ 5 cây số suốt cả đêm để tìm đến gặp thầy với hy vọng cứu sống đứa con gái này. Thầy bày cho cụ cách về cúng “chung thiên”. Cụ nghe theo lời thầy về làm ngay, quả nhiên sau đó cô Thảo tỉnh lại và đòi lên chùa ngay trong đêm. Cô đòi đun nước tắm gội sạch sẽ lên chùa làm lễ. Lên tới chùa, thầy chùa đi vắng nhưng trong tâm thức có điều thôi thúc cô ngồi đợi bằng được thầy chùa để làm lễ. Thậm chí lúc đó nghĩ gì, tại sao lại làm như thế cho đến giờ cô vẫn chưa giải thích được. Đến chiều tối ngày hôm đó, sau khi làm lễ cô cảm thấy trong lòng khoan khái, khỏe mạnh hoàn toàn. Thế rồi, “qua cơn giông tố trời lại ửng hồng”, cô tiếp tục đến trường đến lớp dạy dỗ học trò. Một điều kỳ lạ là năm nào cô cũng bị bệnh mà uống thuốc đều không khỏi chỉ khi đi làm lễ thì bệnh tật lại tiêu biến hết, ngặt nỗi là lúc bấy giờ việc lễ bái còn bị cấm đoán, đều phải làm giấu diếm.

Đến năm 1970, trong một lần cô tình cờ gặp một buổi lên đồng. Cô đồng trong buổi lễ nhìn thấy cô bèn gọi vào và nói “Chúa thương Chúa sẽ cứu con”. Cô từ chối và đi ra khỏi buổi lễ, nhưng lạ là cô không thể bước chân ra khỏi đó được, như có một điều gì níu giữ lại. Cô đồng mời gọi, nói rằng cô nên đi lễ thường xuyên vì “Con là con của Mẫu, là con của Chúa”. Sau buổi lễ đó về nhà, cô vẫn chưa dám đi lễ các đền phủ khác. Trong một lần khác đến phủ Công Đồng, có người hầu bóng trong buổi lễ đã ném lộc cho cô là một bánh xà phòng tắm kèm theo câu phán: “Chúa bảo Chúa ban cho con”. Sau khi cô cầm bánh xà phòng đó lên, cô cảm thấy như “Ngài” đã sát bóng. Cô khóc nức nở không thể kiềm chế, biết rằng mình đang khóc nhưng không thể dừng lại được. Tự miệng cô đã nói với người nhà và những người xung quanh rằng, mình có căn cao số cả nên phải ra hầu đồng. Thậm chí lúc đó cô còn lo sợ vì chưa tin hoàn toàn, mặt khác thời kì đó quan niệm xã hội về các vấn đề tâm linh còn chưa cởi mở. Năm 1972, cô đi trình ở đền cô Ba Bông, Thanh Hóa nhưng bị đồng thấy ném trả lại khăn áo không nhận vì lí do “trốn đồng”. Sau đó cô ra đồng với tâm thế chỉn chu và “tín” hơn. Cô vẫn còn nhớ như in có lần bị ốm nặng, cô mơ thấy người mặc áo mớ ba mớ bảy đến trước giường và đề bốn câu thơ:

“ Xem ra khí lạ những không hay

Phải kíp cầu thần chớ để chày

Rồi sẽ thuốc thang mà cứu trợ

Chắc rằng yên cát hẳn từ đây”

Những câu thơ như khắc sâu vào tâm trí khiến cô không thể nào quên. Từ đó cô tâm niệm rằng hữu duyên hữu phận thì mọi chuyện sẽ bình an. Liên tiếp những chuyện xảy ra khiến cô càng có nhiều mối lo lắng suy tư hơn. Chồng là trưởng nam nên áp lực sinh con trai nối dõi thờ phụng tổ tiên đối với cô ngày càng lớn hơn khi mà cô đã có 2 cô con gái. Trước khi hạ sinh cô con gái thứ ba, cô đi lễ cầu tự khắp nơi nhưng kết quả đều không được như tâm nguyện. Năm 1980, cô bắt đầu lập điện thờ và đến khi cấn thai cô lại nằm mơ được tặng thơ:

“Ba, bốn cô rồi mới có giai

Phải đem tâm mà thờ tự điện đài

Cầu tự phải tìm phương có tử

Rồi ra con hãy cố công bồi”

Chính bởi lẽ đó, khi sinh cô con gái thứ ba cô mới thấy ứng nghiệm và nhất tâm làm theo lời chỉ dạy, năm 1984 cô đã sinh hạ được cậu con trai như ý nguyện. Sở cầu như ý, sở nguyện được tòng tâm cô như cởi được tấm lòng mà nhất tâm phụng thờ Thánh, chăm lo thờ tự điện đài chu đáo. Sau nhiều lần sinh nở, sức khỏe của cô ngày một suy yếu, trong một đêm mơ màng cô lại được Ngài ứng cho 4 câu thơ:

“Phúc đức xưa kia thấy vẫn còn

Tuổi xanh có lúc thấy đã tàn

Trông tinh có khách bên màn đó

Sớm liệu mình ai lúc tuổi non”

Trong giấc mơ đó, bà được Mẫu chỉ cho phải đi lễ tạ cho người con trai, nhưng chưa kịp đi lễ tạ thì vận hạn đã đến khiến con trai bị ngã nước, được bệnh viện xác nhận là không thể cứu được. Đang nằm trên giường bệnh bà như được có người mách bảo bên tai, bà cảm thấy khỏe mạnh, trở dậy làm lễ xin nước và mang nước đến bệnh viện cho con trai uống. Cậu con trai uống nước rồi ngủ đến hôm sau thì tỉnh lại đòi trở về nhà.

Sinh kiếp truân chuyên của một người con Thánh nếu viết một vài trang sách cũng không thể lí giải được hết. Liệu có một sự ứng hợp trong cuộc đời và số phận của con người hay không? Phải chăng đó là sự ứng nghiệm của Mẫu? Có lẽ chúng ta không ai có thể khẳng định được, chỉ chắc rằng nhân quả và tâm linh hướng thiện, giúp đời giúp người chính là phương thuốc huyền diệu và kì bí nhất đưa con người ta vượt qua hoạn nạn. Chính bởi lẽ đó bà luôn tin nhân quả và tin theo Phật Thánh, hết lòng vì sự phục dựng và phát triển văn hóa Đạo Mẫu.

Tâm đã định, chí tất thành. Những hạt giống mà bà đã gieo trồng ngày hôm qua, cuối cùng cũng mang đến cho bà những trái ngọt mà ở độ tuổi thất thập bất kì ai cũng đều ước vọng. Bà có một người chồng đặc biệt thấu hiểu, luôn yêu thương và chia sẻ cùng bà. Ông luôn là điểm tựa cho bà, cùng bà gánh vác việc gia đình, dạy dỗ các con, tạo điều kiện tối đa về thời gian vật chất để bà có thể toàn tâm toàn ý cho nghề giáo và phụng sự Thánh. Bốn cặp vợ chồng con trai, con dâu, con gái, con rể đều đã thành danh, là những nhân sĩ, trí thức có những đóng góp nhất định trong lĩnh vực giáo dục, quân đội và kinh doanh. Như bà đã nói đó chính là kết quả của những năm tháng mặn mòi gió sương và nỗ lực cống hiến của vợ chồng bà và các con. Thật hạnh phúc biết bao!

Người giữ hồn cho nghệ thuật văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu

Với sự thành tâm và khát vọng hướng tới cái đẹp cao cả trong tín ngưỡng đã trở thành động lực để bà vượt lên mọi khó khăn để thành công. Tâm thành của người con Mẫu đã là nguồn sức mạnh to lớn để bà vượt qua những trở ngại về khoảng cách địa lý gắn kết đời sống văn hóa tâm linh giữa mọi vùng miền, mọi người, mọi nhà. Bà Lê Thị Bích Thảo chuyển hẳn về sinh sống tại phường 14, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, với tâm nguyện lớn nhất chính là hoằng dương đạo Mẫu tới đông đảo quần chúng nhân dân, để người dân Nam Bộ và cả nước hiểu, nhận thức đúng đắn, sâu sắc hơn về truyền thống văn hóa tín ngưỡng tốt đẹp của dân tộc. Trên hành trình xây đời dựng đạo, bà nguyện phát tâm trọn đời gìn giữ, bảo tồn và nhân rộng mãi đạo Mẫu. Bà đã trao truyền cho rất nhiều học trò trên khắp mọi miền Tổ quốc về việc thực hành nghi lễ tín ngưỡng thờ Mẫu.

Hàng năm, bà vẫn từ Nam ra Bắc tham gia diễn xướng hầu đồng vào các dịp lễ lớn như tháng 8 tiệc Cha tháng ba tiệc Mẫu ở các đền phủ: đền Bảo Lộc - Nam Định nơi thờ nhà Trần (trong giá Đức Đại Vương Trần Hưng Đạo, Đức ông Đệ tam Trần Quốc (Tảng) ( đền cửa ông), Đại Hoàng thánh cô…). Phủ Quảng Cung Linh Từ - Phù Nấp, Yên Đồng, Ý Yên, Nam Định bà hầu giá chúa đệ nhất thiên tiên, hầu chầu Đệ Nhị thượng ngàn… tại đền Mẫu Đông Cuông, đền mẫu Sòng…Hay như hầu Quan Đệ Tam tại đền Lảnh Giang, đức thánh Hoàng Mười tại đền Củi Hà Tĩnh, hầu bóng quan Hoàng Bảy tại đền Bảo Hà Lào Cai… Tháng 9/2012 bà tham gia diễn xướng hầu đồng cho hội thảo khoa học quốc tế “Văn hóa thờ nữ thần (Mẫu) ở Việt Nam và châu Á” tại thành phố Nam Định. Tháng 11 bà tham gia diễn xướng hầu đồng tại đền Mẫu trong chương trình liên hoan hát văn do hội di sản văn hóa Thăng Long Hà Nội phối hợp với Sở văn hóa thể thao và du lịch Hà Nội tổ chức. Tháng 7/2014, bà là nghệ nhân diễn xướng xuất sắc giá chúa Đệ nhất thiên tiên, Đức Thánh Hoàng Mười, giá Cô đôi Cam Thượng tại lễ hội văn hóa thế giới lần thứ 41 tại thành phố Gannat nước cộng hòa Pháp được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Tháng 6/2015 bà tham gia giao lưu trình diễn tại Hàn Quốc, tiếp đó vào tháng 9/2017 trình diễn tại Bungari, Hy Lạp, và gần đây nhất là Myanmar.

Nghệ nhân Lê Thị Bích Thảo đã được phong tặng nhiều phần thưởng cao quý. Trong đó có Huân chương kháng chiến chống Mĩ cứu nước hạng Nhì năm 1996; Huy chương vì sự nghiệp giáo dục năm 1997; Kỉ niệm chương “Vì sự nghiệp UNESCO” của Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam năm 2011; Tháng 10/2012 bà nhận được giấy khen vinh danh của sở văn hóa, thể thao, du lịch tỉnh Nam Định vì có thành tích đóng góp cho hội thảo quốc tế văn hóa thờ Mẫu ở Việt Nam và châu Á; Tháng 11/2013 bà nhận được bằng khen vì đã có đóng góp tích cực trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của Hội Di sản Văn hóa Việt Nam. Tháng 4/2014 bà nhận được bằng chứng nhận có thành tích tiêu biểu trong quá trình tham gia hầu đồng tại hội thảo khoa học, tín ngưỡng thờ Mẫu Nam Bộ. Từ năm 2011 đến nay bà liên tục đóng góp phục hồi di tích phủ Quảng Cung (Yên Đồng, Ý Yên, Nam Định) - nơi Thánh Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh lần thứ nhất trở thành di tích tiêu biểu quốc gia.

Một nhà giáo mang tư tưởng đạo Mẫu của bà cũng khác. Từ cách đến với đạo Mẫu, cách cảm hay diễn xướng đạo Mẫu luôn trên tinh thần thể hiện ý nghĩa giáo dục nhân văn sâu sắc. Coi đó là những giá trị di sản quý báu của dân tộc. Mang trong mình nhiều trọng trách lớn nên mỗi việc làm của bà đều nhất một lòng tòng một đạo hoằng dương đạo Mẫu. Hiện bà đang là phó chủ nhiệm CLB Bảo tồn Văn hóa đạo Mẫu Việt Nam, phó Chủ tịch hội di sản văn hóa Phủ Quảng Cung, Yên Đồng, Ý Yên, Nam Định. Phó Chủ tịch Hội đồng bảo trợ Trung tâm UNESCO nghiên cứu và ứng dụng Phật học Việt Nam…Năm 2015, ghi nhận những đóng góp và những cống hiến không ngừng nghỉ, bà vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.

Ở độ tuổi thất thập, trải qua bao lần vào sinh ra tử chúng tôi vẫn nhận thấy rõ tấm lòng bao la, nhiệt thành trong con người bà. Suốt mấy chục năm gắn bó đời mình với văn hóa Đạo Mẫu, chia sẻ chuyện đời chuyện Nghiệp bà cho biết mỗi lần được trình diễn hầu đồng, làm việc thiện, công đức dường như bà thấy tâm hồn mình thật sự thanh thản, hy vọng sẽ lan tỏa những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Nhờ ánh hào quang của Mẫu dẫn đường đưa lối cho con nhà Ngài kiên tâm bền trí vượt lên đời thường để trở thành thanh đồng đạo quan tu dưỡng quên mình dẫn dắt con nhang đệ tử trên con đường thánh thiện và phát dương quang đại đạo Mẫu Việt Nam.

Xuân Huy |