Điều trị ung thư tuyến ức

Nguồn : VietnamNet

Ung thư tuyến ức hay u tuyến ức ác tính thuộc loại ung thư ở vùng trung thất trước trải từ cổ họng tới trước tim. Đây là bệnh ung thư có tiên lượng tốt khi được chẩn đoán sớm nhưng bệnh nhân mắc bệnh thường không có triệu chứng nên rất khó phát hiện. Vì vậy việc điều trị ung thư tuyến ức cũng gặp nhiều khó khăn.

Tuyến ức là một cơ quan nhỏ nằm ở phần ngực, phía dưới xương ức. Đây là bộ phận sản xuất ra một loại tế bào bạch cầu để bảo vệ cơ thể khỏi các bệnh nhiễm trùng khi còn nhỏ và trước khi ra đời.

Điều trị ung thư tuyến ức - Ảnh 1

Ung thư tuyến ức là một bệnh hiếm gặp, chỉ chiếm 30% trường hợp các u trung thất trước ở người lớn và 15% các u trung thất trước ở trẻ em. Ung thư tuyến ức có ba dạng chính như sau:

– Ung thư bắt nguồn từ tế bào biểu mô, có độ ác tính cao và khó chẩn đoán tế bào học.

– Ung thư phát sinh từ tế bào Kulchitsky, rất ít khi gặp và cũng khó chẩn đoán.

– Ung thư phát sinh từ tế bào Lympho, đây là loại thường gặp nhất trong các loại ung thư tuyến ức.

Nguyên nhân

Hầu hết các loại bệnh ung thư tuyến ức vẫn chưa được xác định rõ yếu tố nguy cơ và nguyên nhân gây bệnh. Có tới ½ bệnh nhân bị ung thư nhưng lại không có dấu hiệu lâm sàng nào, tuy nhiên có thể chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh dựa vào một số dấu hiệu dưới đây:

– Khoảng 50% bệnh nhân bị nhược cơ như sụp mí, nhược cơ vùng cổ, nhược cơ ngực khi kiểm tra có thể phát hiện ra ung thư tuyến ức.

– 50% bệnh nhân ung thư tuyến ức được phát hiện do có các bệnh như bị thiếu máu hồng cầu, niêm mạc nhợt nhạt, da xanh xao… Tình trạng giảm Gamma Globulin huyết cũng là nguyên nhân làm tăng độ mẫn cảm với các tác nhân gây nên bệnh.

– Người mắc bệnh thấp khớp, lupus cũng có nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến ức cao hơn những người khác.

Triệu chứng ung thư tuyến ức

Ở giai đoạn sớm, bệnh nhân bị ung thư tuyến ức có rất ít triệu chứng. Có tới gần ½ bệnh nhân không hề có biểu hiện gì và chỉ được phát hiện một cách tình cờ trong lần chụp X-quang lồng ngực.

– Khi khối u xâm lấn và chèn ép vào các bộ phận trong trung thất sẽ gây ra dấu hiệu ho, đau tức ngực và khó thở.

Một số triệu chứng ung thư tuyến ức khác gồm khó nuốt, khan giọng, ho ra máu, giảm tiết mồ hôi ở phần bị tổn thương, sụp mí, co đồng tử, sốt và giảm cân, loạn nhịp tim.

– Hội chứng chèn tĩnh mạch vùng cổ khiến mặc bị sưng nề do máu từ đầu từ tim bị cản trở.

Khối u ở tuyến ức là dạng ác tính và tiến triển khá chậm. Nếu được phát hiện sớm và điều trị tích cực kịp thời sẽ mang đến cho bệnh nhân nhiều hy vọng sống lâu hơn.

Các phương pháp điều trị ung thư tuyến ức

Phẫu thuật: Phẫu thuật loại bỏ hoàn toàn khối u là biện pháp phổ biến và chủ đạo nhất trong việc điều trị ung thư tuyến ức. Bác sĩ sẽ xem xét đánh giá mức độ xâm lấn của khối u đồng thời đánh dấu vị trí nghi ngờ để kiểm tra vi thể. Hầu hết các bệnh nhân ung thư tuyến ức đều được khuyến cáo phẫu thuật cắt bỏ cả tuyến ức để có tiên lượng tốt nhất.

Xạ trị: Khối u tuyến ức ác tính khá nhạy cảm với tia xạ nên phương pháp xạ trị có thể áp dụng được tại hầu hết các giai đoạn của bệnh, ngay cả trong trường hợp bệnh tái phát. Các bác sĩ sẽ chia liều lượng xạ trị dựa theo phần tổn thương còn lại sau khi phẫu thuật và các chỉ định xạ trị.

Hóa trị: Ung thư tuyến ức có đáp ứng tương đối cao đối với hóa trị. Phương pháp này thường được chỉ định trong trường hợp không thể thực hiện phẫu thuật được, phẫu thuật không cắt hết được khối u, khối u tái phát hoặc bị di căn ra vị trí xa.

Liệu pháp miễn dịch: Áp dụng liệu pháp miễn dịch trong điều trị ung thư tuyến ức sẽ giúp tăng cường hệ miễn dịch trong cơ thể người bệnh bằng cách nuôi cấy và gia tăng các tế bào miễn dịch trong phòng thí nghiệm, sau đó tiêm trở lại vào cơ thể người bệnh và hoạt hóa chúng, kết hợp với một số loại thuốc kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư. Với phương pháp này, hệ miễn dịch tự thân của người bệnh sẽ tạo thành bức tường ngăn chặn sự xâm lấn của tế bào ác tính tuyến ức và dần tiêu diệt chúng.

Thu Hiền (tổng hợp)